Bản Tin Số 134 Năm Thứ 18 Tháng Mười Hai 2007
Mục Lục

TÌNH THƯƠNG THÁI BÌNH
Câu Chuyện Đời Tôi: Buồn Lắm Rồi Vui Nhiều - Hiếu Ngọc

TIỂU MỤC
  • Tình Thương Thái Bình:
    Câu Chuyện Đời Tôi:
    Buồn Lắm Rồi Vui Nhiều
  • Tình Thương Quy Nhơn:
    Sida - Học Bổng - Lớp May
    Xin Cảm Ơn
  • Tình Thương Hà Nam:
    Hè Tình Thương tại An Nội

Download PDF - Bản Tin 134

Tôi là Trần Văn Nhâm, sinh năm 1910 ở tỉnh Hưng Yên. Năm nay, tôi đã 97 tuổi rồi. Tôi rất tự hào về tuổi tác của mình vì có thể nói tôi khoẻ đẹp nhất Trại Phong Văn Môn này. Tôi đến đây năm 1965 khi Văn Môn còn là một trại nghèo nàn và toàn bộ là cây chuối. Văn Môn xưa và nay tuy có nhiều đổi thay nhưng hơi ấm tình thương thì không bao giờ thay đổi và tôi thấy nó còn nhiều tình thương hơn nữa vì nay chúng tôi được nhận sự quan tâm của Ban Giám Đốc, của các Cha, của các Thầy, và của Quý Ân Nhân.

Từ khi đến sống ở Văn Môn, tôi thấy cuộc đời tôi như thay đổi hẳn. Tôi không còn cô đơn nữa nhưng vui nhiều vì tôi được Ban Giám Đốc của Trại Văn Môn và Quý Ân Nhân giúp đỡ nên tôi cảm thấy thoải mái hơn, yêu sự sống hơn và nhìn thấy cuộc đời đẹp hơn.

Đứng ở mốc thời gian này, nhìn lại những biến cố đau khổ, tôi không khỏi bàng hoàng, chua xót, và lo sợ. Có lúc tôi nghĩ nếu những người bệnh phong như tôi không có chỗ nương tựa, để sống thì không biết chúng tôi sẽ ra sao? Không hiểu rồi chúng tôi có còn sống trên cõi đời này để nhận sự quan tâm của Quý Vị không nữa, nên khi kể lại cuộc đời mình tôi chỉ thấy chua xót và đắng cay.

Tôi sinh ra trong một gia đình rất nghèo tại xã Liên Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Gia đình tôi nghèo lắm nhưng lại đông người. Bố mẹ tôi sinh được bốn người con. Nhà nghèo lại đông con nên bố mẹ làm việc rất vất vả, mà hồi ấy làm gì có ruộng mà trồng cấy, làm gì có gạo mà ăn, chỉ toàn củ chuối và khoai độn, khổ lắm.

Vì nhà nghèo lại đói kém nên mẹ tôi qua đời sớm rồi hai chị và anh tôi cũng bỏ gia đình ra đi về cõi vĩnh hằng. Cực lắm Quý Vị ạ!

Bố tôi từ đó suy sụp tinh thần nhưng vẫn gắng gượng nuôi con, rau cháo qua ngày. Hai bố con tôi dắt nhau đi ăn mày, đi làm thuê, để xin được mua được cái gì đó nuốt vào bụng qua ngày.

Thời gian cứ dần trôi qua, đến năm 19 tuổi, tôi lập gia đình cùng với một cô gái cùng làng, sinh được bốn người con: cũng hai trai, hai gái. Đẹp lắm đấy Quý vị ạ! Vậy mà nạn đói đến và đã mang đi của tôi người vợ trẻ và hai người con gái lớn. Ba năm sau, cậu con trai thứ ba của tôi cũng qua đời vì không chịu được cơn đói khủng khiếp. Thật là đau khổ vì sao ông trời lại mang đi của tôi nhiều niềm yêu thương và người thân đến vậy? Tôi hận ông trời lắm! Gia đình tôi có sáu người giờ đây chỉ còn lại hai người: tôi và con trai út.

Nhưng cuộc đời của tôi không chỉ toàn niềm đau thương mà còn cộng thêm cả sự nghiệt ngã của bản thân mình. Sau một lần đi tiêm chích tại bệnh viện huyện, tôi nhận được một tin sét đánh: Tôi đã bị hủi vì theo bác sĩ khám bệnh thì tôi bị mất cảm giác vùng cánh tay và thế là họ bảo tôi là bị bệnh hủi. Nhục nhã lắm Quý Vị ơi!

Hàng xóm biết chuyện, họ xa lánh bố con tôi. Họ nhìn bố con tôi với đôi con mắt tò mò, lạnh nhạt, và khinh rẻ. Tôi rất khổ tâm. Tôi đã nhiều lần nghĩ tới sự chết cho thoát khỏi nỗi đau này nhưng lại không thể làm được vì tôi còn đứa con trai út là thằng Hào. Tôi không muốn thằng Hào bơ vơ trên cõi đời này, như tôi đang chịu.

Vậy là tôi quyết tiếp tục sống, làm thuê để nuôi con. Gà trống nuôi con, cái cảnh ấy sao mà khổ vậy? Ăn đói, mặc rách, bị mọi người xa lánh, đánh đuổi. Bố con không có nhà, chỉ ở tạm chỗ này chỗ nọ trong làng. Thiên hạ chê chúng tôi là thằng hủi. Bố hủi thì chắc thằng con cũng hủi nên họ không cho về nhà ở vì nhà tôi đã bị đốt mất rồi. Dân làng cho đó là nơi con hủi sinh sống.

Đau lòng lắm! Chúng tôi đi ăn xin khắp nơi. Nghĩ tới cảnh này mà tôi không cầm được nước mắt. Chúng tôi cứ đi làm thuê vài tuần ở nơi xa lạ xong lại về trú ngụ tại một túp lều nhỏ ngoài vườn hoang. Lắm lúc thằng Hào bị rét cóng, bị ốm mà vào làng xin ăn thì họ cũng không cho. Tôi thấy con tôi đâu có tội gì?

Ở túp lều cũ nhỏ đó, mưa thì dột như ngoài trời, nắng chiếu xiên qua mái lều, gió lùa vào rét lắm nhưng hai bố con vẫn cố gắng che chở cho nhau. Đến năm con tôi lên 10 tuổi, tôi cho con đi học nhưng không ít lâu sau con phải bỏ học về nhà khóc nức nở trông rất tội nghiệp. Tôi hỏi làm sao? Con trả lời: Chúng nó bảo con là con nhà hủi, không cho con ngồi cùng bàn, lại trêu con và đánh con.
Con không muốn đi học nữa, bố ơi! Con sợ chúng nó lắm, bố ơi! Con có phải là con nhà hủi không, hả bố?

Câu hỏi của con tôi làm tôi đau lòng không sao tả nổi. Trái tim tôi như bị ai bóp nghẹt. Tôi thấy trời đất tối sầm và tôi ôm con tôi khóc òa lên. Tôi thấy số phận mình cay nghiệt quá, đau khổ quá.

Tôi và con sống như thế trong nhiều năm và sau được Trung Tâm Y Tế của huyện Khoái Châu chỉ đường sang Trại Văn Môn này.

Vừa nghe mách về Văn Môn, tôi liền đưa con đi tìm luôn, không muốn đứng thêm trên cái mảnh đất kinh tởm ấy một tí nào nữa.

Được vào Văn Môn, tâm hồn tôi tự nhiên thấy thoải mái, tin tưởng hơn. Năm 1965, tôi đã đặt chân vào vùng Đất Mới -Vùng Đất Văn Môn - Trại Chuối. Tuy Văn Môn nghèo lắm: nhà tranh, vách đất nhưng lại có tình người rất sâu đậm. Mọi người ở Văn Môn giúp đỡ chúng tôi rất nhiều: các bác sĩ thì lo chữa bệnh cho tôi, các bệnh nhân ở đó thì chia sẻ, đồng cảm cùng với tôi nên tôi rất yên tâm.

Đến Văn Môn, tôi đã cho thằng Hào, con của tôi, ở với một người ngoài trại nuôi. Khi đó nó đã 13 tuổi rồi. Thằng bé ngoan lắm nên bố mẹ nuôi rất yêu quý nó và cho đi học. Năm 17 tuổi, thằng Hào đi làm công nhân ở Quảng Ninh nên từ đó tôi sống một mình.

Sống ở Văn Môn vui cũng nhiều và buồn cũng lắm. Tôi buồn vì gia đình tôi, họ hàng tôi không còn ai thăm tôi nữa. Con trai thì đi làm xa. Tôi cũng thấy bị mặc cảm vì bệnh tật, nhưng vui vì có được những người thực sự hiểu, cảm thông, chia sẻ và yêu thương mình.

Tôi vui vì cuộc sống tại trại Văn Môn dần dần trôi qua. Giờ đây, tôi đã gần 100 tuổi rồi. Đôi chân tôi đã bị cắt gần 10 năm nay vì bệnh hủi. Tuy không đi lại được nhưng không vì thế mà tôi thấy buồn. Đôi mắt tôi nhìn không rõ lắm nhưng thấy nhiều lần có các ân nhân tới tận giường tôi, bắt tay tôi, chụp ảnh tôi. Tôi rất vui và vui nhất là đầu năm 2007 vừa rồi, tôi đã được hội người cao tuổi tổ chức mừng thọ 100 tuổi cho tôi. Tôi phấn khởi lắm! Văn Môn làm tôi hồi sinh. Tuy vi trùng hủi Han Sen tiếp tục cắn xé thân tôi, tôi vẫn cố gắng vui sống vì đang có nhiều ân nhân đến chia sẻ với tôi. Tôi ước mong không ai còn khinh rể, lạnh nhạt với tôi vì bị bệnh hủi!

Cuộc đời có nhiều cái to lớn, rất giá trị nhưng Tình Thương con người dành cho người phong cùi là một Món Quà Vô Giá.

TÌNH THƯƠNG QUY NHƠN
Sida - Học Bổng - Lớp May Xin Cảm Ơn

Quy Nhơn, Cuối Hè 2007

Kính thưa Ban Điều Hành và Quý Ân Nhân Tình Thương,

Chúng con là Nữ Tu Phaolô ở Quy Nhơn thường đi thăm bệnh nhân Sida để tặng quà và an ủi họ. Lần thăm này, chúng con hân hạnh có hai Sứ Giả Tình Thương là chị Thanh Hải từ Mỹ và Anh Hữu Phú từ Buôn Ma Thuột cùng đi và trao 45 phần quà do Hội Tình Thương Việt Nam gởi tặng. Mỗi phần quà trị giá 40.000 VNĐ. Tổng cộng là 1.800.000 VNĐ.

Chúng con xin cảm ơn Quý Vị đã tặng quà Tình Thương an ủi những người đau khổ trong lo sợ vì thần chết đang đến gần. Tuy tội quá khứ của họ đã mắc nhưng với thời gian đã làm cho họ ăn năn hối cải, chắc Chúa cũng tha cho họ rồi. Kính xin Quý Vị cầu nguyện cho họ được can đảm và chuẩn bị linh hồn để ra trình diện với Chúa và cũng xin cầu nguyện cho chúng con có can đảm để giúp đỡ họ trong lúc khốn khó.

Chúng con cũng đã nhận và trao 50 học bổng và Quà Tình Thương cho 50 học sinh nhà nghèo ở Hội Lộc, Nhơn Hải, và Quy Nhơn. Chúng con đang phân vân lo lắng, không biết tìm đâu ra tiền để mua các phần thưởng khuyến khích các học sinh nghèo giỏi và khá, thế rồi Sứ Giả đến và mang niềm phấn khởi cho các cháu qua những phần quà rất cụ thể và mối lo lắng của chúng con đã đươc giải quyết nhanh chóng. Chúng con ban tặng 50 học bổng cho 16 học sinh ở Quy Nhơn; 19 học sinh ở Hội Lộc, và 15 học sinh ở Nhơn Hải. Mỗi học bổng được nhận 300.000 VNĐ tương đương 20 USD. Phần thưởng cho học sinh giỏi là 10 quyển vở và 1 cây viết nguyên tử; cho học sinh khá là 5 quyển vở và 1 cây viết nguyên tử. Các học trung bình và kém cũng được an ủi với 2 quyển vở và 1 cây viết. Mỗi em đều được một bịch bánh kẹo do chính các Sứ Giả ngồi đóng gói đêm qua tại Dòng Phaolô. Tất cả các em đều hân hoan mừng rỡ vì có vở để chuẩn bị vào niên khóa mới.

Chúng con cũng xin cảm ơn Quý Vị đã bảo trợ Lớp May Phaolô - Tơ Trời Khoá 7. Chúng con nhận được 1.000 USD để mua dụng cụ may thêu và hai thùng dành riêng cho các em nữ và 200 áo Tee Shirt mới tinh. Sứ Giả Thanh Hải đã gặp gỡ các em để chia sẻ niềm vui và khích lệ cho các em cầu tiến.

Chúng con hy vọng Sứ Giả Thanh Hải sẽ tường thuật rõ ràng hơn về cuộc sống của các em ở đây để Quý Vị biết rõ và tiếp tục giúp đỡ cho các em thăng tiến. Phần chúng con xin hết lòng tạ ơn Chúa Mẹ và kính cảm ơn Quý Vị đã giúp cho công việc tông đồ của chúng con với người nghèo khổ ở đây.

Kính chúc Quý Vị được tràn đầy Hồng Ân của Thiên Chúa.

Kính thư,
Con: Nữ Tu Francoie Đào Thị Thảo
Bề Trên Cộng Đoàn Nữ Tu Phaolô ở Quy Nhơn
122 Trần Hưng Đạo
Quy Nhơn, Việt Nam

TÌNH THƯƠNG HÀ NAM
Hè Tình Thương tại An Nội

Tôi tên là Cù Văn Long cư ngụ tại San Jose, California. Nhân dịp về thăm quê vào Mùa Hè 2007, tôi đã được Hội Tình Thương Việt nam chọn làm Sứ Giả Tình Thương ở An Nội. Hôm nay, tôi xin kể sơ về Sứ Vụ Tình Thương của tôi.

Đại gia đình chúng tôi có 20 người gồm chị em, con cháu, và dâu rể kéo nhau về thăm quê thuộc Tỉnh Hà Nam ở Huyện Bình Lục tại Làng An Nội. Mục đích chính của chuyến thăm là để cho con cháu biết cội nguồn, gốc rễ. Mục đích phụ là để cho con cháu thấy tận mắt cảnh dân làng sống cơ cực khó nghèo là như thế nào ở làng quê Miền Bắc, Việt Nam.

Làng An Nội của tôi được liệt kê là một vùng nghèo nhất Tỉnh Hà Nam từ bao đời nay. Dân làng nghèo lắm, quanh năm suốt tháng đi làm mà vẫn không đủ ăn. Đàn ông của Làng An Nội chỉ được ở nhà với gia đình vài ba tháng trong mùa trồng cấy thôi. Sau mùa trồng cấy, họ phải xa gia đình để đi kiếm ăn nơi khác, mặc dầu vợ con họ sống bơ vơ, rất nhớ thương.

Tôi được Hội Tình Thương Việt Nam, qua Chị Thanh Hải, giao cho 700 đô la Mỹ để giúp đỡ các cụ già neo đơn, các em nhỏ nghèo hèn, và các gia đình tàn tật ở làng quê tôi. Trên đường về làng, chúng tôi đã ghé vào chợ Đồng Xuân mua nhiều bánh kẹo và quần áo mới để làm quà tặng. Khi mua quà xong trong buổi sáng, chiếc xe “van” tiếp tục đưa đại gia đình về làng quê nhưng mãi tới xế chiều, xe mới đến cổng làng. Dân làng và bà con lối xóm ra đón thật là thân mật. Chúng tôi được người nhà đãi ăn một bữa cơm chiều với đặc sản món nai đồng quê thật ngon. Tối hôm đó, chúng tôi hàn huyên tâm sự cùng dân làng và bà con họ hàng lối xóm đến khuya.

Ngày hôm sau, vợ chồng tôi bắt tay ngay vào Sứ Vụ Tình Thương, chuyển trao Quà Tình Thương đến tận tay các cụ già và các gia đình có người tàn tật. Ngày hôm đó, chúng tôi cũng phát quần áo mới và bánh kẹo cho các trẻ trong làng. Sau đó hai ngày, chúng tôi đành giã từ dân làng và người thân để tiếp tục cuộc hành trình thăm quan quê hương xứ sở Miền Bắc.

Đi đâu, chúng tôi đều thấy làng quê Miền Bắc nghèo khổ hơn làng quê Miền Nam. Vì thế, chúng tôi kính xin Quý Ân Nhân tiếp tục hướng về quê hương. Chúng ta cùng chia sẻ, dù nhiều hay ít, tất cả cũng đều mang lại Niềm Vui cho những người nghèo khổ, nhất là ở làng quê Miền Bắc. Từng ánh mắt mừng rỡ, từng giọt lệ vì "quá xúc động", Quý Vị sẽ không bao giờ quên được những giây phút gặp gỡ ánh mắt này khi Quý Vị có dịp làm việc từ thiện bác ái với người nghèo khổ trên Quê Mẹ Việt Nam. Chúng ta hãy tạo cho mình được một lần làm "Sứ Giả Tình Thương." Tôi tin chắc Quý Vị sẽ thấy đời sống hôm nay rất có ý nghĩa qua việc giúp đỡ người nghèo.

Một lần nữa, tôi xin thay mặt các dân làng, các cụ già, các gia đình tàn tận, các em nhỏ làng quê An Nội gởi đến Quý Vị lời cảm ơn chân thành và xin ghi ơn Hội Tình Thương Việt nam đã đoái hoài giúp đỡ chia sẻ với các kẻ nghèo hèn, kém may mắn nơi Làng An Nội, Huyện Bình Lục, Tỉnh Hà Nam.

Thu 2007 ở San Jose, California
Cù Văn Long - Sứ Giả Tình Thương

Mục Lục